Tuyên ngôn Độc lập - Kết tinh những giá trị cao đẹp
Tốc độ:1x
(QK7 Online) - Tiếp nối thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, long trọng khẳng định với toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập".
Ngày 28/8/1945, trên căn gác hai của ngôi nhà 48 Hàng Ngang (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 30/8/1945, Người mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý kiến cho bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 31/8/1945, Người bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tuyên ngôn Độc lập - ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam.
Xét theo quá trình, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ ra đời sau thời điểm kể trên, mà tư tưởng của nó đã được suy ngẫm, được hình thành từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây (năm 1919) bản Yêu sách của Nhân dân An Nam đòi quyền bình đẳng về mặt pháp lý và đòi các quyền tự do, dân chủ. Người đã chuẩn bị Tuyên ngôn Độc lập bằng cả thực tiễn mấy chục năm dài hoạt động trong phong trào cách mạng thế giới và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập là sáng tạo của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là sản phẩm của lịch sử; là kết quả của những hy sinh, mất mát của dân tộc trong gần một thế kỷ đấu tranh dưới ách xâm lược của thực dân, đồng thời là sự kết tinh giá trị của hàng ngàn năm văn hóa Việt Nam.
Được suy ngẫm và viết ra bởi Hồ Chí Minh - Người mà trọn đời chỉ có một ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, tư tưởng chủ đạo, nổi bật trong bản Tuyên ngôn Độc lập là độc lập - tự do, là tinh thần yêu nước, chuộng hòa bình và tinh thần nhân văn cao cả.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng những dẫn chứng hùng hồn, ngắn gọn, cụ thể để vạch trần sự áp bức tàn bạo của bọn thực dân, phát xít đối với dân tộc Việt Nam. Trái tim Người đau xót khi nói về tình cảnh của Nhân dân dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.
Trái tim ấy cũng chất chứa “thái độ khoan hồng và nhân đạo” của truyền thống đạo nghĩa dân tộc Việt Nam khi tuyên bố với thế giới rằng: “Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng, tài sản cho họ”. Và trái tim ấy tràn ngập niềm vui sướng, tự hào khi: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”.
Không chỉ đấu tranh cho quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đất nước mình, trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam là bộ phận khăng khít, là sự tiếp nối tiến trình đấu tranh vì lẽ phải, vì sự tiến bộ của loài người, là cuộc đấu tranh giành lại quyền thiêng liêng nhất của các dân tộc.
81 năm đã trôi qua kể từ ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, một đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ đang ngày càng vững vàng trong sự nghiệp đổi mới, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.