(QK7 Online) - Những năm gần đây, tình trạng khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định (IUU) trên biển vẫn diễn biến phức tạp, đòi hỏi giải pháp quản lý chặt chẽ, bền vững và sát thực tế. Từ thực tiễn đó, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Lâm Đồng đã triển khai mô hình “Cán bộ, đảng viên phụ trách phương tiện có nguy cơ cao vi phạm”, bước đầu mang lại hiệu quả rõ nét. Cách làm không chỉ quản lý hành chính mà gắn trách nhiệm đến từng cán bộ, phương tiện, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của ngư dân.
“Một cán bộ – một phương tiện”
Điểm xuất phát của mô hình là công tác rà soát, phân loại chính xác các phương tiện có nguy cơ cao vi phạm. Đây thường là những tàu cá có công suất lớn, hoạt động dài ngày trên biển, từng có tiền sử vi phạm hoặc thường xuyên hoạt động gần các vùng ranh giới nhạy cảm. Bên cạnh đó, các yếu tố như điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình, trình độ nhận thức pháp luật của chủ tàu, thuyền trưởng cũng được đưa vào đánh giá tổng thể.
Đồn Biên phòng Tân Thành tặng cờ Tổ quốc, áo phao cho ngư dân.
Trên cơ sở đó, từng cán bộ, đảng viên ở các đồn biên phòng được phân công phụ trách cụ thể từng phương tiện. Việc phân công không mang tính hình thức mà gắn với trách nhiệm chính trị rõ ràng. Mỗi cán bộ phải nắm chắc hồ sơ, đặc điểm hoạt động, mối quan hệ xã hội, thậm chí cả tâm tư, nguyện vọng của chủ tàu mà mình phụ trách. Nhờ “định danh đúng đối tượng”, công tác quản lý đã chuyển từ dàn trải sang tập trung, có trọng tâm, trọng điểm.
Cốt lõi của mô hình là nguyên tắc “Một cán bộ – một phương tiện” (hoặc một nhóm phương tiện). Qua đó, thiết lập mối quan hệ trực tiếp, thường xuyên giữa lực lượng chức năng với ngư dân. Không còn là những buổi tuyên truyền chung chung, cán bộ phụ trách trở thành người đồng hành cùng chủ tàu trong suốt quá trình hoạt động. Trước mỗi chuyến ra khơi, họ trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, phổ biến quy định pháp luật, phân tích rủi ro khi vi phạm, hướng dẫn cụ thể về ranh giới khai thác, phương thức liên lạc trên biển.
Trong quá trình tàu hoạt động, cán bộ tiếp tục duy trì liên lạc, theo dõi qua hệ thống giám sát hành trình, kịp thời nhắc nhở khi phương tiện có dấu hiệu di chuyển vào khu vực nhạy cảm. Sau mỗi đợt khai thác, việc đánh giá, rút kinh nghiệm cũng được thực hiện nghiêm túc.
Tuyên truyền sát đối tượng, kiểm soát từ sớm
Một điểm nổi bật của mô hình là phương thức tuyên truyền được “cá thể hóa” theo từng đối tượng. Thay vì áp dụng nội dung chung, cán bộ phụ trách lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với từng chủ tàu.
Với những người hạn chế về nhận thức pháp luật, cách tuyên truyền được giản lược, dễ hiểu, gắn với tình huống cụ thể. Với các chủ tàu từng vi phạm, nội dung đi sâu phân tích hậu quả pháp lý, thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng uy tín cá nhân. Đối với những hộ có hoàn cảnh khó khăn, công tác tuyên truyền được kết hợp với định hướng sinh kế, giúp họ không phải đánh đổi bằng hành vi vi phạm. Chính sự linh hoạt này đã giúp pháp luật không còn khô cứng mà trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận, từng bước hình thành ý thức tự giác trong ngư dân.
Các phương tiện khai thác trên biển được BĐBP Lâm Đồng phối hợp theo dõi, giám sát .
Những con số như hơn 398.400 lượt ngư dân được tuyên truyền, hàng trăm lớp tập huấn được tổ chức, 100% phương tiện trong diện quản lý lắp đặt thiết bị giám sát hành trình… đã phản ánh quy mô và hiệu quả của chương trình.
Tại Đồn Biên phòng Cửa khẩu Cảng Phú Quý, công tác tuyên truyền được “đời sống hóa” bằng cách tiếp cận gần dân. Nhiều năm qua, Thượng úy Mai Văn Minh, Đội trưởng Vận động quần chúng không quản ngại khó khăn, thường xuyên đến từng gia đình ngư dân, nhất là các hộ có hoàn cảnh khó khăn để tuyên truyền, vận động.
Anh chia sẻ: “Khi mỗi ngư dân hiểu luật, tôn trọng luật và biết tự bảo vệ mình thì công tác quản lý sẽ nhẹ nhàng, hiệu quả hơn. Ngư dân đã chuyển từ bị động sang chủ động, từ né tránh sang tự giác chấp hành”.
Không dừng lại ở tuyên truyền, mô hình còn phát huy hiệu quả trong kiểm soát, ngăn ngừa vi phạm từ sớm, từ xa. Thông qua giám sát hành trình và mạng lưới tổ tàu thuyền tự quản, cán bộ phụ trách có thể phát hiện kịp thời những dấu hiệu bất thường như tàu đi lệch hướng, tăng tốc về phía ranh giới hoặc mất tín hiệu thiết bị.Trong nhiều trường hợp, chỉ một cuộc gọi kịp thời đã giúp phương tiện điều chỉnh hướng đi, tránh nguy cơ vi phạm. Cơ chế này đánh dấu bước chuyển quan trọng từ “xử lý vi phạm” sang “phòng ngừa vi phạm”.
Giá trị lớn nhất của mô hình không chỉ nằm ở việc giảm vi phạm mà còn ở việc xây dựng niềm tin giữa lực lượng BĐBP và ngư dân. Khi cán bộ thực sự gần dân, hiểu dân và chia sẻ khó khăn, các quy định pháp luật không còn là rào cản mà trở thành điểm tựa.
Ngư dân sẵn sàng hợp tác, chủ động cung cấp thông tin, thậm chí nhắc nhở lẫn nhau trong cộng đồng. Thực tiễn cho thấy, số vụ vi phạm vùng biển nước ngoài đã giảm rõ rệt. Nhiều phương tiện từng nằm trong diện nguy cơ cao nay đã chấp hành nghiêm quy định, hoạt động đúng ngư trường cho phép. Quan trọng hơn, mô hình tạo ra sự chuyển biến về nhận thức, ngư dân hiểu rõ hơn về pháp luật, về chủ quyền quốc gia và trách nhiệm của mình. Đó cũng chính là nền tảng quan trọng để giữ tàu cá không “đi lạc”, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa bằng chính ý thức và hành động của ngư dân.